Hạ kali máu trong thực hành lâm sàng
Hạ kali máu là rối loạn điện giải rất thường gặp trong bệnh viện. Nguy hiểm không nằm ở con số kali đơn thuần mà ở tốc độ giảm, bệnh tim nền, thuốc đang dùng và biểu hiện thần kinh cơ. App này ưu tiên hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam, đối chiếu thêm tài liệu quốc tế cho phần theo dõi và định hướng nguyên nhân.
1. Hạ kali máu là gì?
Hạ kali máu được xác định khi kali huyết thanh dưới 3,5 mmol/L. Phân tầng theo nồng độ chỉ để định hướng nhanh: 3,0-3,4 mmol/L là nhẹ, 2,6-2,9 mmol/L là vừa, từ 2,5 mmol/L trở xuống là nặng. Tuy nhiên mức độ lâm sàng thực tế vẫn phải đối chiếu điện tâm đồ, triệu chứng thần kinh cơ, bệnh nền và thuốc đang dùng. Một người bệnh kali 3,2 mmol/L nhưng đang dùng Digoxin và có ngoại tâm thu thất dày có thể nguy hiểm hơn một người kali 2,8 mmol/L hoàn toàn không triệu chứng.
2. Khi nào cần xử trí khẩn?
Bộ Y tế đặc biệt lưu ý nhóm có kali từ 2,5 mmol/L trở xuống, hoặc kali dưới 3,0 mmol/L nếu đang dùng Digoxin, khi kèm liệt cơ hay dấu hiệu điện tâm đồ nặng. Đây là nhóm cần bù Kali clorid tĩnh mạch ngay với monitor điện tâm đồ. Trong app, các dấu hiệu được phân thành hai mức khác nhau. Biến đổi ECG gợi ý hạ kali như sóng T dẹt, ST chênh xuống hay sóng U rõ sẽ nâng lên mức bù tĩnh mạch khẩn có monitor, chứ không tự động ra nhánh tốc độ cao. Chỉ xoắn đỉnh, loạn nhịp thất, huyết động không ổn định và yếu cơ nặng mới đẩy sang nhánh cấp cứu. Cách tách này bám theo hướng dẫn Bộ Y tế, nơi nhánh 13-20 mmol mỗi giờ được dành cho liệt cơ và dấu hiệu điện tim nặng, đồng thời phù hợp với American Family Physician (2023) khi coi biến đổi ECG là lý do cân nhắc đường tĩnh mạch với tốc độ thông thường khoảng 10 mmol mỗi giờ.
3. Nguyên tắc bù kali
Nếu người bệnh ổn định, đường tiêu hóa hoạt động và kali trên 2,5 mmol/L, đường uống thường được ưu tiên vì an toàn hơn. Truyền tĩnh mạch dành cho hạ kali nặng, điện tâm đồ bất thường, liệt hoặc yếu cơ nặng, suy hô hấp, hoặc khi không thể dùng đường uống. Kali clorid là dạng dùng phổ biến nhất vì hạ kali thường đi cùng mất chloride.
Khi điều chỉnh hạ kali đơn thuần, nên ưu tiên dung dịch không chứa glucose, vì glucose kích thích tiết Insulin và tiếp tục đẩy kali vào trong tế bào. Các tình huống đặc biệt như phác đồ nhiễm toan ceton do đái tháo đường phải theo protocol riêng. Với đường ngoại biên, nồng độ quá cao gây đau và viêm tĩnh mạch, Bộ Y tế đưa ngưỡng 40 mmol/L cho đường ngoại biên. Khi cần tốc độ 13-20 mmol mỗi giờ thì nên dùng đường trung tâm. Giới hạn chung là không vượt quá 26 mmol mỗi giờ.
4. ECG và biến chứng
Biến đổi điện tâm đồ trong hạ kali gồm sóng T dẹt, đoạn ST chênh xuống, sóng U nổi bật và kéo dài thời gian tái cực. Khi sóng T và sóng U hòa lẫn, khoảng QU kéo dài rõ, nguy cơ xoắn đỉnh tăng lên. Hạ kali nặng làm tăng nguy cơ ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, xoắn đỉnh và rung thất. Về thần kinh cơ, người bệnh có thể chuột rút, yếu cơ, liệt, giảm thông khí và tiêu cơ vân. Điện tâm đồ vẫn có thể bình thường dù kali đã rất thấp, vì vậy không dùng ECG bình thường để loại trừ nguy cơ.
5. Vì sao phải kiểm tra magie?
Hạ magie thúc đẩy mất kali qua thận. Nếu kali liên tục thấp hoặc đáp ứng bù kém, việc chỉ tăng liều Kali clorid mà không đánh giá magie thường không giải quyết được vấn đề nền. Khi cả kali và magie đều thấp, cần điều chỉnh đồng thời, có tính đến chức năng thận. Trong bối cảnh xoắn đỉnh, Magie Sulfat được dùng theo phác đồ xoắn đỉnh mà không chờ kết quả xét nghiệm magie.
6. Tư duy nguyên nhân: mất kali hay chuyển vào tế bào?
Cách thực dụng nhất là chia thành bốn nhóm: mất qua tiêu hóa, mất qua thận, chuyển kali vào tế bào và giảm đưa vào. Phân biệt hai nhóm đầu với nhóm chuyển vào tế bào rất quan trọng, vì trong liệt chu kỳ hạ kali hoặc nhiễm độc giáp, tổng lượng kali cơ thể thường không thiếu và bù quá tay có thể gây tăng kali hồi ứng. Khi nguyên nhân chưa rõ, kali niệu, tình trạng toan kiềm, huyết áp, magie và đánh giá renin cùng aldosterone giúp thu hẹp chẩn đoán. Trong bệnh viện, nguyên nhân thường là tổ hợp: lợi tiểu cộng với ăn kém cộng với tiêu chảy, chứ hiếm khi chỉ có một yếu tố.
Tài liệu tham khảo
- Bộ Y tế, Quyết định 1493/QĐ-BYT (2015), Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí hồi sức tích cực, mục Hạ kali máu.
- Bộ Y tế, Quyết định 3931/QĐ-BYT (2015), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận và tiết niệu.
- Kim MJ, Valerio C, Knobloch GK. Potassium Disorders: Hypokalemia and Hyperkalemia. American Family Physician. 2023;107(1):59-70A.
- Merck Manual Professional, Hypokalemia.